|
Công ty Lâm nghiệp Bình Thuận thời hậu khủng hoảng |
|
|
|
|
Written by binhthuan
|
|
Thứ sáu, 18 Tháng sáu 2010 |
|
There are no translations available
BTO- Sau một thời gian khủng hoảng, gần đây Công ty Lâm nghiệp Bình Thuận bắt đầu củng cố bộ máy, đoàn kết nội bộ, từng bước khắc phục khó khăn. Dù đứng trước những thách thức khá lớn, song hoạt động sản xuất- kinh doanh của công ty đã dần sinh lãi, chịu thuế thu nhập và hoàn thành các chỉ tiêu tăng trưởng chủ yếu. Thấy rõ nhất là trong năm 2009 vừa qua, tổng doanh thu mà công ty đạt được lên đến hơn 19,5 tỷ đồng, đạt 137,33% so kế hoạch năm. Nhờ đó đã nộp ngân sách vượt chỉ tiêu đề ra là trên 780/680 triệu đồng, nâng mức thu nhập bình quân đầu người lên 2,15 triệu/tháng đồng so năm trước đó chỉ đạt 1,8 triệu đồng…
Những kết quả đạt được là nỗ lực đáng ghi nhận của toàn thể công ty khi mà tình hình suy thoái kinh tế vẫn còn đó những tác động tiêu cực. Tuy nhiên với công tác xúc tiến quảng bá sản phẩm được tăng cường, Công ty Lâm nghiệp Bình Thuận đã đánh dấu một bước trưởng thành và phát triển trong thời hậu khủng hoảng. Từ sự góp mặt ở các hội chợ triển lãm trong và ngoài tỉnh, hàng hóa của công ty dần được khách hàng ưa chuộng và đáp ứng nhu cầu thị trường hiện nay. Cũng qua quảng bá, mới đây đơn vị đã ký kết hợp đồng sản xuất tại Khu du lịch Làng Tre với doanh thu lớn nhất từ trước đến nay là 3,5 tỷ đồng. Điều đó còn khẳng định năng lực của đội ngũ từ khâu tiếp thị, đàm phán, ký kết hợp đồng, sản xuất và lắp đặt sản phẩm… với khách hàng.
 |
| Khách hàng tìm hiểu sản phẩm từ gỗ của Công ty Lâm nghiệp Bình Thuận |
Bước sang năm 2010- tầm nhìn đến năm 2015, Công ty Lâm nghiệp Bình Thuận cũng đã định hướng phát triển phù hợp với tiềm năng, lợi thế của ngành chế biến gỗ. Trên cơ sở kết quả kiểm kê về diện tích đất đai đang quản lý ở từng địa bàn theo chủ trương của Chính phủ trong năm 2010, công ty sẽ tiến hành các bước đi hợp lý. Trong đó định hướng sản xuất- kinh doanh theo mô hình chuyển đổi Công ty Lâm nghiệp hiện nay thành Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Bình Thuận… Trước mắt, công ty sẽ tìm giải pháp huy động hiệu quả các nguồn vốn đáp ứng cho công tác trồng rừng năm 2010 dự kiến 1.200 ha. Bên cạnh còn tiếp tục hợp tác đầu tư với Công ty Sanrimjohap VINA, nhằm góp phần phủ kín toàn bộ quỹ đất theo quy hoạch và kế hoạch đề ra. Đồng thời, quyết tâm khởi công xây dựng Nhà máy ván MDF tại huyện Hàm Thuận Nam theo đúng lộ trình thời gian và đảm bảo tuân thủ các quy định.
Qua thời khủng hoảng là giai đoạn mà Công ty Lâm nghiệp Bình Thuận tập trung hình thành thương hiệu, định hình sản phẩm chủ lực để tiếp cận thị trường trong khu vực. Với năng lực chế biến gỗ hiện tại, công ty đủ khả năng sản xuất hàng mộc cao cấp trang trí nội thất, kết hợp với các mặt hàng truyền thống, chạm trổ, thủ công mỹ nghệ. Ngoài sản phẩm chủ lực, công ty cũng hướng đến các mặt hàng ngoài gỗ như song, mây, lồ ô, le… để đáp ứng thị hiếu cho nhiều đối tượng khách hàng. Qua đó toàn thể công ty phấn đấu trong năm 2010 đạt doanh thu tăng 20%, đưa thu nhập bình quân đầu người lên 2,4 triệu đồng/tháng. Được vậy thì việc đóng góp cho hoạt động từ thiện xã hội, đền ơn đáp nghĩa của công ty cũng sẽ cao hơn con số gần 368 triệu đồng trong năm 2009…
Nguồn Báo Bình Thuận |
|
Last Updated ( Thứ sáu, 18 Tháng sáu 2010 )
|
|
|
Hướng dẫn việc quản lý, cấp phát, thanh toán vốn NSNN cho dự án Trồng mới 5 t |
|
|
|
|
Written by binhthuan
|
|
Thứ ba, 13 Tháng tư 2010 |
|
There are no translations available
Hướng dẫn việc quản lý, cấp phát, thanh toán vốn NSNN cho dự án Trồng mới 5 triệu ha rừng
B ộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 89/2008/TT-BTC ngày 15/10/2008 hướng dẫn việc quản lý, cấp phát, thanh toán vốn ngân sách nhà nước cho dự án Trồng mới 5 triệu ha rừng.
Theo đó, Ngân sách nhà nước cấp phát từ nguồn vốn đầu tư phát triển cho các dự án trồng mới 5 triệu ha rừng thuộc đối tượng sử dụng vốn ngân sách nhà nước.
Việc phân bổ vốn được quy định, đối với các dự án do Bộ, ngành Trung ương quản lý: căn cứ vào kế hoạch trung hạn 3 năm và kế hoạch hàng năm của Thủ tướng Chính phủ giao, các Bộ, ngành phân bổ chỉ tiêu kế hoạch vốn hàng năm cho từng dự án đã đủ điều kiện quy định thuộc phạm vi quản lý gửi Bộ Tài chính để thẩm tra theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, đồng gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để theo dõi quản lý.
Đối với các dự án do tỉnh quản lý: căn cứ vào kế hoạch trung hạn 3 năm và kế hoạch hàng năm của Thủ tướng Chính phủ giao, Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở Tài chính dự kiến phân bổ vốn đầu tư cho từng dự án đã đủ điều kiện quy định trình Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định, gửi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính để theo dõi quản lý.
Sau khi việc phân bổ vốn đầu tư đã được cơ quan Tài chính thẩm tra, các Bộ, ngành và Uỷ ban nhân dân tỉnh giao chỉ tiêu kế hoạch cho chủ đầu tư để thực hiện, đồng gửi Kho bạc nhà nước nơi dự án mở tài khoản để theo dõi, làm căn cứ kiểm soát, thanh toán vốn.
Định kỳ, các Bộ, ngành, địa phương rà soát, đánh giá tiến độ thực hiện của các dự án trong năm để điều chỉnh giảm kế hoạch vốn của các dự án không có khả năng thực hiện, điều chỉnh tăng kế hoạch vốn cho các dự án thực hiện vượt tiến độ, các dự án có khả năng hoàn thành vượt kế hoạch trong năm. Thời hạn điều chỉnh kế hoạch vốn đầu tư hàng năm kết thúc chậm nhất là ngày 31 tháng 12 năm kế hoạch.
Việc cấp phát, thanh toán nguồn vốn ngân sách nhà nước được thực hiện qua hệ thống Kho bạc nhà nước. Chủ đầu tư được mở tài khoản tại Kho bạc nhà nước nơi thuận tiện cho việc kiểm soát thanh toán và thuận tiện cho giao dịch của chủ đầu tư.
Để phục vụ cho công tác quản lý, kiểm soát thanh toán vốn đầu tư, chủ đầu tư phải gửi đến Kho bạc nhà nước nơi mở tài khoản thanh toán các tài liệu cơ sở của dự án.
Thông tư cũng quy định, các hạng mục, công việc, gói thầu của dự án Trồng mới 5 triệu ha rừng được tạm ứng vốn tối thiểu là 50% giá trị hợp đồng hay dự toán được phê duyệt.
Việc tạm ứng vốn cho các hợp đồng thuộc trách nhiệm của chủ đầu tư và phải được quy định rõ trong hợp đồng. Vốn tạm ứng được thực hiện sau khi hợp đồng có hiệu lực; trường hợp trong hợp đồng mà chủ đầu tư và nhà thầu thoả thuận có bảo lãnh tiền tạm ứng thì nhà thầu phải có bảo lãnh khoản tiền tạm ứng. Mức vốn tạm ứng không vượt kế hoạch vốn hàng năm đã bố trí cho gói thầu.
Vốn tạm ứng được thu hồi bằng cách trừ dần vào số vốn thanh toán khối lượng hoàn thành. Thời điểm bắt đầu thu hồi khi thanh toán khối lượng hoàn thành đạt 30% giá trị hợp đồng; thu hồi hết khi thanh toán khối lượng hoàn thành đạt 80% giá trị hợp đồng. Mức thu hồi từng lần do chủ đầu tư thống nhất với nhà thầu để xác định.
Việc thanh toán khối lượng hoàn thành được quy định riêng đối với các công việc thực hiện theo hợp đồng thì việc thanh toán thực hiện theo hợp đồng: theo giá hợp đồng và các điều kiện trong hợp đồng. Số lần thanh toán, giai đoạn thanh toán và điều kiện thanh toán phải được ghi rõ trong hợp đồng. Còn đối với các công việc thực hiện không thông qua hợp đồng: việc thanh toán phù hợp với từng loại công việc, trên cơ sở báo cáo khối lượng công việc hoàn thành và dự toán được duyệt cho từng công việc:
+ Trường hợp tự làm: việc thanh toán trên cơ sở báo cáo khối lượng công việc hoàn thành và dự toán được duyệt cho từng nội dung công việc.
+ Đối với các công việc do đơn vị tự thực hiện thuộc kinh phí 5% của dự án cho công tác quản lý, bảo vệ rừng; kinh phí 2% của dự án để tổ chức các hoạt động khuyến lâm; kinh phí 10% quản lý dự án ..., việc thanh toán phù hợp với từng loại công việc, trên cơ sở bảng kê chi tiêu và dự toán được duyệt cho từng nội dung công việc.
.Thời hạn thanh toán và xử lý nguồn vốn thanh toán được quy định: Kế hoạch vốn của năm được cấp phát cho khối lượng hoàn thành được nghiệm thu đến hết ngày 31/3 và thời gian thanh toán vốn của Kho bạc nhà nước được thực hiện đến hết ngày 30/4 của năm sau. Trường hợp dự án chưa thanh toán hết kế hoạch thì số vốn còn lại được kéo dài thanh toán tiếp vào năm sau. Trường hợp dự án thực hiện vượt kế hoạch được ứng trước kế hoạch vốn năm sau để thanh toán nhưng tổng số vốn đã thanh toán và ứng trước 3 năm không được vượt kế hoạch vốn 3 năm đã giao cho dự án.
Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày đăng Công báo và thay thế Thông tư số 43/2002/TT-BTC ngày 7/5/2002 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc quản lý, cấp phát vốn NSNN cho dự án Trồng mới 5 triệu ha rừng và Thông tư số 24/2003/TT-BTC ngày 27/3/2003 của Bộ Tài chính sửa đổi một số điểm của Thông 43/2002/TT-BTC ngày 7/5/2002.
Thông tư 89
(Nguồn: Website BTC) |
|
|
Điểm mới trong bán đấu giá tài sản |
|
|
|
|
Written by binhthuan
|
|
Thứ ba, 13 Tháng tư 2010 |
|
There are no translations available
Điểm mới trong bán đấu giá tài sản
(Chinhphu.vn) - Chính phủ vừa ban hành Nghị định mới về bán đấu giá tài sản, thay thế Nghị định 05/2005/NĐ-CP đã bộc lộ một số hạn chế cần tháo gỡ sau 4 năm triển khai. Nghị định này được đánh giá là có nhiều điểm mới, hoàn thiện hơn và đáp ứng được nhu cầu của hoạt động bán đấu giá tài sản.
Nghị định quy định rõ hơn về đối tượng tài sản phải áp dụng trình tự, thủ tục bán đấu giá tài sản, bao gồm: Tài sản để thi hành án; tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu sung quỹ nhà nước; tài sản bảo đảm được xử lý bằng bán đấu giá; tài sản nhà nước, tài sản là quyền sử dụng đất trong trường hợp Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất được bán đấu giá theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các tài sản khác phải bán đấu giá theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, trong trường hợp cá nhân, tổ chức lựa chọn bán đấu giá tài sản thuộc sở hữu của mình thông qua tổ chức bán đấu giá tài sản chuyên nghiệp thì trình tự, thủ tục quy định tại Nghị định này cũng được áp dụng.
Nâng cao tiêu chuẩn trở thành đấu giá viên
Nghị định 05/2005/NĐ-CP quy định điều kiện được cấp thẻ đấu giá viên tương đối đơn giản, chưa tương xứng với nhiệm vụ, trách nhiệm của đấu giá viên (quy định người có bằng đại học trong bất kỳ lĩnh vực nào đều có thể trở thành đấu giá viên mà không cần phải qua đào tạo, bồi dưỡng).
Nhằm nâng cao chất lượng và tính chuyên nghiệp của đội ngũ đấu giá viên, Nghị định mới quy định chặt chẽ hơn về tiêu chuẩn trở thành đấu giá viên. Theo đó, đấu giá viên phải là người đã tốt nghiệp đại học ngành luật hoặc ngành kinh tế và đã qua khóa đào tạo nghề đấu giá.
Do tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề đối với đấu giá viên được nâng lên, nên trách nhiệm pháp lý của họ cũng được nâng cao. Cụ thể, đấu giá viên được sử dụng quyền của mình để xử lý trực tiếp, kịp thời các hành vi thông đồng dìm giá hoặc vi phạm nội quy bán đấu giá của những người tham gia đấu giá.
So với Nghị định 05, Nghị định mới còn bổ sung quy định về việc cấp lại, thu hồi Chứng chỉ hành nghề nhằm quản lý chặt chẽ hơn hoạt động của đội ngũ đấu giá viên.
Quy định rõ hơn về tổ chức bán đấu giá tài sản
Thực hiện chủ trương tiếp tục xã hội hoá về tổ chức bán đấu giá tài sản, Nghị định xác định rõ hơn các tổ chức bán đấu giá tài sản chuyên nghiệp gồm có: Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản và doanh nghiệp bán đấu giá tài sản. Hiện nay, trong cả nước đã có 63 Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản ở 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do UBND tỉnh thành lập và 104 doanh nghiệp bán đấu giá tài sản được thành lập theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp.
Ngoài các tổ chức bán đấu giá tài sản chuyên nghiệp, còn có 2 loại Hội đồng: Hội đồng bán đấu giá tài sản cấp huyện được thành lập để thực hiện bán tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu và Hội đồng bán đấu giá tài sản trong trường hợp đặc biệt được thành lập để bán đấu giá tài sản nhà nước, tài sản là quyền sử dụng đất có giá trị lớn, phức tạp hoặc trong trường hợp không thuê được tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp thực hiện việc bán đấu giá. Với quy định rõ ràng như trên sẽ góp phần khắc phục tình trạng thành lập Hội đồng bán đấu giá tài sản một cách tràn lan ở các địa phương.
Tăng mức tiền đặt trước
Nghị định quy định, người tham gia đấu giá tài sản phải nộp phí tham gia đấu giá và khoản tiền đặt trước. Theo quy định cũ, khoản tiền đặt trước do tổ chức bán đấu giá và người có tài sản bán đấu giá thỏa thuận không quá 5% giá khởi điểm là quá thấp, nhiều trường hợp tiền đặt cọc quá nhỏ dẫn đến bỏ cuộc. Vì vậy, Nghị định nâng mức tiền đặt trước cao hơn (tối thiểu là 1% và tối đa không quá 15%) nhằm khắc phục tình trạng những người tham gia đấu giá liên kết với nhau để dìm giá hoặc họ sẵn sàng chịu mất số tiền đặt trước trong trường hợp từ chối mua tài sản với mục đích gây khó khăn cho người có quyền và lợi ích liên quan hoặc vì mục đích vụ lợi. Đồng thời, quy định mức trần với sự linh hoạt nhất định vẫn bảo đảm phù hợp với thực tiễn của từng địa phương.
Hạn chế thông đồng trong đấu giá tài sản
Nghị định 05 quy định trong trường hợp người điều hành cuộc bán đấu giá đã công bố người mua được tài sản bán đấu giá mà người này từ chối mua thì tài sản được bán cho người trả giá liền kề nếu giá liền kề ít nhất bằng giá khởi điểm. Nếu người liền kề không đồng ý mua hoặc giá liền kề thấp hơn giá khởi điểm thì cuộc bán đấu giá không thành và khoản tiền đặt trước của người từ chối mua thuộc về người có tài sản bán đấu giá.
Tuy nhiên, quy định này đã bị lợi dụng trên thực tế, có tình trạng cố tình trả giá rất cao, được tuyên bố là người mua được tài sản rồi lại từ chối mua để người liền kề mua được tài sản và hai bên chia nhau số tiền chênh lệch. Ngoài ra, khả năng cuộc bán đấu giá không thành là rất cao vì người trả giá liền kề có thể không đồng ý mua.
Do đó, Nghị định mới đã sửa đổi theo hướng quy định chế tài nghiêm khắc hơn đối với người từ chối mua và hạn chế sự thông đồng giữa một số người tham gia đấu giá. Cụ thể, người từ chối mua tài sản không được hoàn trả khoản tiền đặt trước và khoản tiền này thuộc về người có tài sản bán đấu giá. Đồng thời, tài sản chỉ được bán cho người trả giá liền kề nếu giá liền kề đó cộng với khoản tiền đặt trước ít nhất bằng giá đã trả của người từ chối mua.
Quy định như trên sẽ góp phần bảo đảm quyền lợi của người có tài sản, không làm giảm giá trị của tài sản bán đấu giá và bảo đảm cuộc bán đấu giá thành.
Nguồn Sở Tài chính |
|
|
Quyết định phê duyệt Đề án phát triển giống cây nông |
|
|
|
|
Written by binhthuan
|
|
Thứ ba, 13 Tháng tư 2010 |
|
There are no translations available
Quyết định phê duyệt Đề án phát triển giống cây nông, lâm nghiệp, giống vật nuôi và giống thủy sản đến năm 2020 của Chính phủ.
Ngày 25/12/2009 Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 2194/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển giống cây nông, lâm nghiệp, giống vật nuôi và giống thủy sản đến năm 2020.
Mục tiêu cụ thể của Đề án này là: (1) tăng nhanh tỷ lệ sử dụng giống tiến bộ kỹ thuật cho sản xuất đại trà phù hợp với điều kiện của từng vùng, nhằm tạo ra đột phá mới về năng suất, chất lượng sản phẩm; (2) Nâng cao trình độ khoa học công nghệ, áp dụng công nghệ sản xuất giống, ứng dụng có hiệu qủa công nghệ sinh học, phục tráng giống đặc sản địa phương; (3) Khuyến khích các thành phần kinh tế trong và ngoài nước đầu tư nghiên cứu, chọn tạo, sản xuất giống, hình thành công nghiệp sản xuất giống; (4) Bảo vệ và phát triển nguồn giống sinh sản tự nhiên.
Ưu tiên đầu tư phát triển giống phục vụ mục tiêu nâng cao khả năng cạnh tranh, hiệu quả xuất khẩu, bao gồm: các dự án giống lúa thuần chất lượng cao, một số cây ăn quả chủ lực, rau, hoa và nấm, cà phê, ca cao, cao su, chè chất lượng cao, cá tra, basa, tôm sú, tôm thẻ chân trắng, tôm hùm, công nghệ sản xuất giống một số loài cá biển, nhuyễn thể, rong biển có giá trị kinh tế cao.
Tổng vốn đầu tư cho Đề án này khoảng 70 ngàn tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách nhà nước chiếm 22%, vốn tín dụng đầu tư 25%, vốn vay thương mại 25%, vốn khác 28%. Trong đó:
- Ngân sách nhà nước đầu tư cho nghiên cứu khoa học về giống, giữ nguồn gen, nhập nội nguồn gen, nhập công nghệ, mua bản quyền tác giả giống; thuê chuyên gia; xây dựng mô hình trình diễn; đầu tư hạ tầng cơ sở nghiên cứu, sản xuất, chế biến giống; xây dựng trại giống đầu dòng, trung tâm giống; đào tạo cán bộ nghiên cứu và sản xuất giống….
- Ngân sách nhà nước hỗ trợ mức tối đa 50% để xây dựng cơ sở hạ tầng vùng sản xuất giống tập trung, sản xuất giống gốc, giống đầu dòng, siêu nguyên chủng, giống cụ kỵ, giống ông bà và hỗ trợ 30% chi phí sản xuất giống lai cần khuyến khích.
- Các tổ chức cá nhân đầu tư sản xuất giống gốc, giống siêu nguyên chủng, giống nguyên chủng, giống bố mẹ (lai), cây đầu dòng, giống cụ kỵ, giống ông bà, đàn hạt nhân, đàn nhân giống, vườn giống cây lâm nghiệp, rừng giống, giống mới sử dụng công nghệ cao được vay vốn tín dụng đầu tư phát triển nhà nước theo quy định hiện hành;
- Các tổ chức, cá nhân sử dụng đất để nghiên cứu, thí nghiệm và sản xuất giống cây nông, lâm nghiệp, giống vật nuôi, giống thủy sản được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất với ưu đãi cao nhất về tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất; miễn nộp thủy lợi phí.
Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành.
Nguồn Sở NNPTNT |
|
|
Cắm mốc, phân định ranh giới lâm phận theo quy hoạch 3 loại rừng |
|
|
|
|
Written by binhthuan
|
|
Thứ ba, 13 Tháng tư 2010 |
|
There are no translations available
Cắm mốc, phân định ranh giới lâm phận theo quy hoạch 3 loại rừng
Từ khi Quyết định 674/2007/QĐ-UBND ngày 13/3/2007 của UBND Tỉnh V/v Phê duyệt Quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Bình Thuận đến năm 2010 được phê duyệt đến nay, ngành Nông nghiệp & PTNT cố gắng triển khai các bước công việc tiếp theo để hoàn thành thủ tục cắm mốc ranh giới rừng và bàn giao bản đồ cho chủ rừng và địa phương quản lý. Song quá trình thực hiện có nhiều khó khăn vướng mắc nên tiến độ chậm so với yêu cầu.
Đến nay, trên cơ sở Quyết định số 3409/QĐ-UBND ngày 10/12/2008 của UBND tỉnh Bình Thuận V/v Phê duyệt phương án kỹ thuật - dự toán đo định vị toạ độ, cắm mốc ranh giới lâm phận và 3 loại rừng của các đơn vị quản lý rừng trên địa bàn tỉnh Bình Thuận; Kế hoạch 6065/KH-UBND ngày 09/12/2008 của UBND Tỉnh V/v Triển khai đo đạc định vị toạ độ, cắm mốc ranh giới lâm phận và 3 loại rừng của các đơn vị quản lý rừng trên địa bàn tỉnh Bình Thuận, Quyết định số 387/QĐ-UBND ngày 09/2/2009 V/v thành lập Ban Chỉ đạo cắm mốc đất lâm nghiệp; Sở Nông nghiệp và PTNT đã hợp đồng với Xí nghiệp Đo đạc Bản đồ Địa hình Nông nghiệp 2 - Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp (thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT) để thi công thực hiện phương án. Trước tiên, giao đơn vị thi công thực hiện tại hai khu vực có tình hình tranh chấp đất đai phức tạp thuộc địa bàn huyện Hàm Thuận Bắc và thành phố Phan Thiết.
Về tiến độ thực hiện, đến nay đã hoàn thành việc cắm mốc cho Ban quản lý rừng phòng hộ Hồng Phú (huyện Hàm Thuận Bắc) và khu vực xã Thiện Nghiệp thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Phan Thiết. Đơn vị cắm mốc đang tiếp tục thực hiện tại khu vực Phường Mũi né và xã Tiến Thành. Dự kiến trung tuần tháng 4/2009 hoàn thành cắm mốc ranh giới 3 loại rừng tại địa bàn thành phố Phan Thiết, tổ chức nghiệm thu cắm mốc tại 2 đơn vị này; bàn giao hồ sơ bản đồ và bàn giao thực địa ranh giới quy hoạch 3 loại rừng cho Ban quản lý rừng phòng hộ Hồng Phú và Ban quản lý rừng phòng hộ Phan Thiết. Sau đó Ngành sẽ tổ chức đánh giá, rút kinh nghiệm để tiếp tục triển khai đối với các đơn vị khác.
Nguồn Sở NN&PTNT |
|
|